Phản hồi bài "Tiêu chuẩn chất lượng giáo dục" của GS. Nguyễn Văn Tuấn Print E-mail
24-02-2008

Trên tạp chí Tia sáng ra ngày 20/02/2008 có bài ‘Tiêu chuẩn chất lượng giáo dục đại học' của GS. Nguyễn Văn Tuấn.  Đây là một bài viết thu hút sự chú ý của những ai quan tâm đến kiểm định chất lượng giáo dục đại học Việt Nam. Bài viết rất chi tiết, cụ thể mà chắc chắn người viết phải bỏ nhiều thời gian và công sức để đầu tư vào việc nghiên cứu và sau đó là trình bày ý kiến của mình trong một bài báo dài hơn 13 trang. Trong bài báo, có nhiều phần sẽ có ích cho người đọc để hiểu về quan điểm của tác giả về các chức năng của giáo dục đại học hiện đại và vai trò của giáo dục đại học trong nền kinh tế quốc gia, các câu hỏi về vị trí của giáo dục đại học Việt Nam khi so sánh với các nước trong khu vực và trên thế giới, về định nghĩa chất lượng giáo dục đại học và về các tiêu chuẩn kiểm định chất lượng giáo dục đại học.

Tuy nhiên, có một số vấn đề mà tôi muốn trao đổi với người viết, GS. Nguyễn Văn Tuấn, như sau:

1) Thứ nhất, tác giả cho rằng các tiêu chuẩn mà Bộ GD-ĐT vừa ban hành ‘có liên quan đến quản lí hơn là chất lượng' và ‘tiêu chuẩn về sứ mệnh chẳng có liên quan gì đến chất lượng đào tạo'(ở đây xin lưu ý là Bộ GD-ĐT đã ban hành Bộ tiêu chuẩn này 2 lần: lần thứ nhất là văn bản có tính tạm thời (2004) và lần thứ hai là văn bản chính thức (2007)). Tác giả hoàn toàn chính xác khi nói rằng đây là Bộ tiêu chuẩn có tính quản lý, do Bộ Giáo dục Đào tạo có chức năng quản lý về mặt nhà nước về chất lượng giáo dục, còn các trường đại học mới là nơi làm ra ‘chất lượng' giáo dục và đào tạo đại học mà tôi sẽ đề cập ở phần sau. Ngoài ra, tôi hoàn toàn đồng ý là ‘bất cứ trường đại học nào cũng có thể viết thành một phát biểu mang tính sứ mệnh (statement of mission) rất dễ dàng, nhưng viết ra được câu đó, cố nhiên, không có nghĩa là trường đại học đó có ‘chất lượng'. Điều đó cũng có nghĩa là không phải trường đại học nào có tuyên bố sứ mạng cũng đều được đóng dấu công nhận đã được kiểm định. Vấn đề là những tiêu chuẩn sau tuyên bố đó có được thực hiện đúng như ‘sứ mạng' của trường đại học không.

2) Tác giả cho rằng, ‘các tiêu chuẩn còn quá chung chung'.  Thật ra, đọc đến đây tôi nghĩ chắc là tác giả đề cập đến bộ tiêu chuẩn mới được ban hành. Vì trong bộ tiêu chuẩn ban hành tạm thời, có rất nhiều tiêu chuẩn định lượng. Tuy nhiên, sau khi thử nghiệm, lắng nghe các ý kiến đóng góp của nhiều người tham gia, và của các chuyên gia quốc tế, bộ tiêu chuẩn kiểm định hiện nay có sửa đổi thay thế các tiêu chí định lượng bằng các tiêu chí định tính. Nếu tham khảo các tiêu chuẩn kiểm định của thế giới, có thể thấy là hầu hết các tiêu chuẩn kiểm định đều thiên về định tính hơn định lượng. Lấy các tiêu chuẩn của Cơ quan Kiểm định Chất lượng Giáo dục Đại học (The Higher Learning Commission - HLC) của Hiệp hội Kiểm định Chất lượng Giáo dục vùng Trung Bắc (North Central Association - NCA) làm ví dụ. Đây là cơ quan kiểm định chất lượng giáo dục lớn nhất ở Hoa Kì, ra đời vào năm 1895, có qui mô lên đến 19/50 tiểu bang). Cơ quan này cũng đã nhiều lần sửa đổi Bộ tiêu chuẩn kiểm định của mình.

Trước năm 1989, các hoạt động kiểm định của cơ quan này tập trung vào các nguồn lực (nguồn vật lực, tài lực và nhân lực) của các trường đại học như là những bằng chứng quan trọng nhất cho thấy chất lượng của mình (tập trung vào đầu vào) (HLC, 2007). Hầu hết các tiêu chuẩn đều có tính định lượng. Tuy nhiên, vào năm 1989, do nhu cầu xã hội và giáo dục thay đổi, HLC bắt đầu chuyển sự tập trung sang việc đánh giá kết quả học tập của sinh viên. Sự thay đổi này được thể hiện rõ bằng Bộ tiêu chuẩn mới vào năm 2003, với triết lý: "sinh viên học, mà cụ thể là họ sẽ học những gì mà họ cần phải biết để có thể đạt được sự thành công cho chính cá nhân mình và thực hiện được các trách nhiệm xã hội của mình trong thế kỷ 21" (HLC, 2007). Chính vì sự chuyển hướng này mà hầu hết các tiêu chí đánh giá đều mang tính định tính hơn định lượng để tất cả các trường đều có thể thực hiện được. Trong các báo cáo của các trường, có thể có rất nhiều con số để chứng minh là mình ‘có chất lượng' như tuyên bố sứ mạng của mình.

3) Ở đây, vấn đề khái niệm cũng nên được đề cập đến. Tác giả nói là ‘tiêu chuẩn' (standard), nhưng tôi nghĩ ý tác giả là ‘tiêu chí' (criteria). Thường tiêu chuẩn bao giờ cũng là các tuyên bố chung chung, các tiêu chí sẽ cụ thể hơn, và các chỉ số thực hiện (performance indicator) sẽ cụ thể hơn nữa. Trong bài báo này, tôi không đi quá sâu vào các vấn đề chuyên môn, tuy nhiên, các tiêu chuẩn mà tác giả đề nghị, theo tôi là các chỉ số thực hiện hơn là tiêu chuẩn.

Cơ quan Kiểm định Chất lượng Giáo dục Đại học sử dụng khái niệm tiêu chí chứ không phải là tiêu chuẩn. Giải thích cho việc sử dụng thuật ngữ "tiêu chí" thay vì "tiêu chuẩn", những người chịu trách nhiệm chính của HLC giải thích rằng từ ‘tiêu chuẩn' gợi cho chúng ta đến những khái niệm về ‘chuẩn mực' (standardization), các ‘tiêu chuẩn tối thiểu' (minimum standards), điều mà các trường đại học thường không đánh giá cao trong một xã hội đa dạng và phức tạp như Hoa Kì. Những tiêu chí của HLC cho thấy khuynh hướng tôn trọng sự khác biệt, đa dạng cũng như tính hướng tới người học và hướng tới việc hoàn thành sứ mạng, hướng tới tương lai của các cơ sở đào tạo giáo dục đại học.

4) Thật ra, tất cả các tiêu chuẩn mà Bộ GD-ĐT ban hành đều có liên quan đến nhau và bao hàm tất cả các lĩnh vực mà một trường đại học phải thực hiện để ‘có chất lượng'. Lấy ví dụ mà tác giả đưa ra về "Chương trình giáo dục", "Chương trình giáo dục chính quy và giáo dục thường xuyên được thiết kế theo quy định, đảm bảo chất lượng đào tạo". Tiêu chuẩn này có đến 6 tiêu chí, mỗi tiêu chí là mỗi nội dung khác nhau có liên quan đến chương trình. Ví dụ mà tác giả nêu lên là thuộc tiêu chí 3. Muốn thực hiện đánh giá xem một trường đại học có ‘'đạt' được tiêu chí này không, các chuyên gia kiểm định cần được đào tạo và tập huấn, và cũng phải là người nắm vững về lĩnh vực đánh giá về đào tạo. Các chuyên gia sẽ xem xét báo cáo tự đánh giá của nhà trường (và những người làm tự đánh giá cũng cần dược đào tạo và tập huấn để có thể viết báo cáo và thu thập minh chứng), xem xét các hồ sơ minh chứng bao gồm tất cả các tài liệu có liên quan đến chương trình giáo dục chính quy và giáo dục thường xuyên để chắc chắn là chúng được thực hiện ‘đúng qui định' và ‘đảm bảo chất lượng đào tạo'. Làm thế nào để biết là ‘đúng qui định' và ‘đảm bảo chất lượng đào tạo', các chuyên gia kiểm định phải so sánh với các văn bản, tài liệu, qui định. Sau đó, phải đến trường để xem xét, phỏng vấn nhiều đối tượng khác nhau, tìm đọc các hồ sơ và sử dụng chuyên môn của mình để xem xét tính xác thực, rõ ràng và tin cậy của các thông tin thu nhận được. Nói một cách nôm na, không quá chuyên sâu, các chuyên gia kiểm định đóng vai trò như các kiểm toán viên nhà nước hiện nay.

5) Khuynh hướng kiểm định hiện nay không sử dụng các tiêu chí quá định lượng, do một trường đại học có 35.000 đầu sách mà sinh viên không đọc chưa hẳn đã hơn những trường đại học có 30.000 đầu sách mà có biện pháp khuyến khích sinh viên đến tham khảo. Ngoài ra, hiện nay các chuyên gia kiểm định có nhiều kinh nghiệm của các nước đang khuyến khích Việt Nam cần giảm bớt số lượng các tiêu chuẩn và tiêu chí kiểm định. Cần có những tiêu chuẩn và tiêu chí có tính khái quát và tổng hợp cao hơn là những tiêu chí có tính quá cụ thể. Các tiêu chí quá chặt chẽ sẽ không khuyến khích sự đa dạng vốn đang bắt đầu phát triển ở Việt Nam. Ngoài ra, e ngại của tác giả về việc không thực hiện được Bộ tiêu chuẩn cũng tương đối bi quan do Việt Nam đã thực hiện thử nghiệm đánh giá ngoài 20 trường đại học đầu tiên và kết quả cho thấy các đoàn đánh giá ngoài làm việc khá tốt do được đào tạo và tập huấn bởi các chuyên gia quốc tế và trong nước, cũng như những người được chọn lựa để tham gia đánh giá ngoài đều có các tiêu chuẩn chọn lựa khá nghiêm túc.

Trong bài báo của mình, tác giả đưa ra các vấn đề có liên quan nhiều đến chuyên môn đánh giá, kiểm định, kiểm toán và xếp hạng. Tuy nhiên, điều đáng tiếc là chưa có các định nghĩa về các thuật ngữ này nên làm cho người đọc lẫn lộn giữa các mục tiêu với nhau. Trong xếp hạng, thường do một số các tạp chí thực hiện và hiện nay đang có nhiều tranh cãi với nhau về mức độ chính xác của nó, thường được thực hiện dựa vào một số tiêu chí cụ thể, ví dụ như số lượng các bài báo trong năm, số người được giải...Đây là các vấn đề, dù cũng có ít nhiều liên quan, nằm ngoài phạm vi Bộ tiêu chuẩn kiểm định mà Việt Nam đang thực hiện.

6) Ngoài ra, trong bài viết của mình, tác giả đã rất công phu soạn thảo và đưa ra kiến nghị về Bộ tiêu chuẩn đánh giá. Như đã đề cập ở trên, đây là các ‘chỉ số thực hiện'. Chúng tôi đã từng có công trình nghiên cứu và cũng đã đề nghị sử dụng các chỉ số thực hiện này để đánh giá chất lượng các trường đại học (Bùi Mạnh Nhị, 2006) gồm 3 phần với 20 tiêu chí. Mỗi tiêu chí có một số chỉ số (tổng cộng 158 chỉ số thực hiện với 94 chỉ số trọng tâm và 64 chỉ số khác). Tuy nhiên, đối với Bộ tiêu chuẩn kiểm định có phạm vi toàn quốc nên có những tiêu chí khái quát. Các trường có thể sử dụng các chỉ số thực hiện để chứng minh ‘chất lượng' của mình.

Trong phạm vi một phản hồi hẹp, tôi chưa thể trình bày chi tiết các ý kiến của mình. Nếu có trao đổi, xin tác giả và những người có quan tâm liên hệ trực tiếp với tôi theo địa chỉ email ( This e-mail address is being protected from spam bots, you need JavaScript enabled to view it ; This e-mail address is being protected from spam bots, you need JavaScript enabled to view it hoặc This e-mail address is being protected from spam bots, you need JavaScript enabled to view it ) hoặc có thể trao đổi trên diễn đàn của Báo.

Xin chân thành cảm ơn.

 

TS. Nguyễn Kim Dung

Viện Nghiên cứu Giáo dục - Trường ĐHSP Tp. HCM

Học giả Fulbright tại HLC - NCA - Hoa Kì

Viết ngày 23/02//2008

Cập nhật ( 10-04-2008 )
 
Trang chủ - Liên hệ - Webmail - Sitemap
Bản quyền © 2008 của Viện Nghiên Cứu Giáo Dục - Trường ĐH Sư Phạm Thành phố Hồ Chí Minh.
Ghi rõ nguồn www.ier.edu.vn khi sử dụng lại thông tin từ website này.
115 Hai Bà Trưng, Quận 1, TP. Hồ Chí Minh - Tel: 84-8-38224813, 38272891 - Fax: 84-8-38273833