Các mô hình đào tạo đại học của thế giới hiện nay Print E-mail
15-04-2009
ThS. Đỗ Thị Phương Anh

Trung tâm Nghiên cứu Giáo dục đại học - Viện NC Giáo dục

Bài viết này giới thiệu sơ lược mô hình đào tạo đại học ở một số nước trên thế giới, đặc biệt là ở Úc. Các trường đại học ở Châu Á cũng đang cố gắng có được một hệ thống giáo dục đại học đạt chuẩn quốc tế (ví dụ như Trung Quốc, Ấn Độ, Singapore).

Úc, Canada, Nhật Bản và Trung Quốc đang là những địa chỉ hấp dẫn đối với sinh viên quốc tế trong lĩnh vực giáo dục đại học. 

Hệ thống giáo dục đại học Úc giống Anh hơn Mỹ. Ở Úc, hệ thống đào tạo đại học khá đơn giản. Sau khi học xong lớp 12, học sinh phải trải qua một kỳ thi tốt nghiệp trung học. Tất cả các học sinh đều được cấp chứng chỉ tốt nghiệp trung học, với một số điểm (hay hạng) mà học sinh đạt được trong kỳ thi. Số điểm này sẽ quyết định học sinh có thể xin học ngành gì ở bậc đại học. Chẳng hạn, muốn theo học các ngành y hay luật khoa, học sinh phải có số điểm cao nhất. Các ngành khác như kỹ thuật, kinh tế, khoa học thường đòi hỏi học sinh phải có điểm trên trung bình. Các ngành văn chương, toán và y tá chỉ đòi hỏi học sinh có điểm trung bình. Các trường đại học lớn, lâu đời và có uy tín thường đòi điểm cao hơn các trường nhỏ và mới. Do đó, một học sinh có thể đủ điểm để vào học Y khoa ở trường A, nhưng lại chỉ đủ điểm học kỹ sư ở trường B. Điều cần chú ý ở đây là, không như ở Việt Nam, học sinh Úc không phải thi vào đại học sau khi đã thi xong trung học; số điểm thi trung học là yếu tố quyết định được vào đại học hay không.

Thời gian học bằng cử nhân (bachelor) cho các ngành khoa học cơ bản (Sinh học, Vật lý, Hóa học, Toán...), khoa học nhân văn, văn chương thường là ba năm. Tuy nhiên các ngành như kỹ sư điện, dược và luật khoa thường từ 4 tới 5 năm. Tùy theo ngành học, sau khi xong chương trình cử nhân, tất cả các sinh viên được cấp bằng BA (Bachelor of Arts), BSc (Bachelor of Science) hay BE (Bachelor of Engineering). Riêng ngành y khoa, các sinh viên thường phải học 6 năm và làm tập sự (internship, residence) 1-2 năm trong bệnh viện để được cấp bằng cử nhân. Những sinh viên này được cấp hai bằng cử nhân viết tắt là M.B (bachelor of medicine) và B.S (bachelor of surgery). Cần được nói thêm là mặc dù văn bằng là cử nhân, nhưng danh xưng của họ là "bác sĩ" (doctor).

Những sinh viên xuất sắc thường được khuyến khích học thêm một năm nữa và tập làm nghiên cứu ở phân khoa. Sau khi xong một năm, học sinh sẽ phải viết một luận án tốt nghiệp, và được cấp bằng cử nhân nhưng có kèm theo chữ "honours" như BA (Hons), BSc (Hons), BE (Hons) hay MB BS (Hons).

Mô hình đào tạo sau đại học ở Úc được kết hợp từ hai mô hình của Anh và Mỹ. Vì thế, nó khá đa dạng, nhưng rõ ràng. Phần lớn các ngành khoa học và kỹ thuật, có ba chương trình đào tạo: Graduate Diploma, Masters và Doctorate Graduate diploma thường dành cho:

  1. Những người muốn theo học các môn học mà không cùng môn học ở bậccử nhân mà họ đã có (chẳng hạn như sinh viên đã có bằng cử nhân vềtoán, nhưng muốn theo học sau đại học ngành quản lý).
  2. Những người không đủ khả năng hay điều kiện học bậc masters. Thờigian học graduate diploma thường từ 1 tới 2 năm. Tuy nhiên phần lớn là1 năm. Sinh viên không cần làm luận án tốt nghiệp.

Ngày nay, với sự cạnh tranh giữa các trường đại học càng ngày càng gay gắt, số lượng sinh viên theo học Graduate Diploma ít dần đi, vì phần đông họ tìm cách học chương trình masters. Thật ra, phân nửa các môn học của Graduate Diploma là nằm trong chương trình học Masters.

Hiện nay, ngay cả ở các nền giáo dục tiên tiến nhất thế giới cũng đang có những biến đổi mạnh mẽ trước sức ép của xu hướng toàn cầu hóa. Hệ thống giáo dục đại học châu Âu bắt đầu được điều chỉnh để nâng cao sức thu hút. Các trường đại học Châu Á đang cố gắng có được một hệ thống giáo dục đại học đạt chuẩn quốc tế ở mọi cấp độ. Ví dụ Trung Quốc và Ấn Độ đang chi mạnh tay cho việc xây mới hoặc nâng cấp hạ tầng hệ thống đại học, đồng thời chi hàng triệu USD để quảng cáo thu hút sinh viên nước ngoài. Nhật là một trong số những quốc gia có số sinh viên nước ngoài đến du học nhiều nhất, vượt qua cả Pháp và Mỹ. Trung Quốc hiện chi 0,5% GDP hàng năm cho giáo dục đại học và có kế hoạch đầu tư đến 4% - cao hơn mức 1,1% của châu Âu và cả mức 2,7% của Mỹ. Đầu năm 2007, Malaysia tuyên bố mục tiêu trở thành điểm đến của 100.000 du học sinh quốc tế (gấp đôi hiện tại) vào trước năm 2010.

Trong khi đó, hệ thống đại học Singapore thậm chí đưa ra mức lương cạnh tranh với những đại học "xịn" nhất của Mỹ (giáo sư trẻ có thể được trả 180.000 USD/năm tại Singapore). Các trường cao đẳng kỹ thuật tổng hợp (Polytechnics) ở Singapore có chương trình đào tạo rất rộng dành cho học sinh thích học các ngành thiên về thực hành ở cấp độ cao đẳng. Các trường này có mối liên hệ chặt chẽ với các công ty và xí nghiệp, giúp chuẩn bị chỗ làm cho sinh viên. Sau khi tốt nghiệp cao đẳng, sinh viên có thể tiếp tục theo học các khóa tại các trường đại học. Nhiều đại học châu Á bắt đầu đưa ra chương trình giảng dạy hoàn toàn bằng tiếng Anh. Chất lượng đại học châu Á ngày càng được nâng cao, song song với số lượng.

Nhiều trường đại học nổi tiếng đã thiết lập các chương trình liên kết với các đại học nước ngoài. Ví dụ như từ giữa năm 2007, trường đào tạo kinh tế nổi tiếng của Pháp, INSEAD đã liên kết đào tạo chương trình thạc sĩ (MBA) với Đại học Thanh Hoa (Trung Quốc). Số liệu tháng 5-2007 của Hội đồng Giáo dục Hoa Kỳ cho biết 131 đại học tư Ấn Độ đã thiết lập chương trình liên kết với các đại học nước ngoài; và gần 1/2 viện đại học Anh cũng mở rộng cơ hội học tập cho sinh viên họ tại Trung Quốc.

Sức nóng cạnh tranh từ châu Á đang phả vào lưng phương Tây. Tháng 7-2007, Chính phủ Pháp ban hành kế hoạch cải tổ và chấn chỉnh từ "trên nóc" một hệ thống giáo dục đại học với ngân sách 5 tỷ Euro cho chương trình hiện đại hóa từ nay đến năm 2012.

Kết luận

Trong bối cảnh toàn cầu hoá, tùy thuộc vào điều kiện kinh tế - xã hội, mỗi quốc gia có thể xây dựng cho mình một chiến lược phát triển giáo dục đại học khác nhau. Các chính sách giáo dục bậc đại học trong tương lai sẽ ưu tiên chất lượng hơn số lượng. Giáo dục bậc đại học còn phải có một chú trọng vai trò tạo cho mọi người các cơ hội học tập suốt đời.

Tài liệu tham khảo

  •  Nguyễn Văn Tuấn, Ph.D. Đào tạo đại học Úc. University of New South Wales.
  • Tài liệu trên mạng theo địa chỉ: http://www.tgvn.com.vn/Item/VN/ThoiSu/2007/12/E4BD6ADA9D3E42B6/
 
Trang chủ - Liên hệ - Webmail - Sitemap
Bản quyền © 2008 của Viện Nghiên Cứu Giáo Dục - Trường ĐH Sư Phạm Thành phố Hồ Chí Minh.
Ghi rõ nguồn www.ier.edu.vn khi sử dụng lại thông tin từ website này.
115 Hai Bà Trưng, Quận 1, TP. Hồ Chí Minh - Tel: 84-8-38224813, 38272891 - Fax: 84-8-38273833