Về tình hình học sinh bỏ học và đề xuất giải pháp khắc phục thực trạng Print E-mail
02-04-2009
TS. Trương Công Thanh
TT Nghiên cứu GD Phổ thông - Viện Nghiên cứu giáo dục

Hội nghị giao ban lần 1 năm học 2008-2009 giữa 12 Sở GD&ĐT các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) (ngày 24/11/2008) và giữa 5 Sở GD&ĐT các thành phố trực thuộc trung ương (ngày 25/11/2008) đã đưa ra số liệu về tỷ lệ học sinh bỏ học tại một số tỉnh thành trên như sau (số liệu được lấy từ các báo đã đăng về vấn đề này):

- Theo số liệu báo cáo về tỷ lệ học sinh bỏ học đầu năm học 2008 - 2009 tại các tỉnh ĐBSCL, học sinh bỏ học trong hè ở cấp THCS và THPT còn khá cao. Càng học lên cao, học sinh càng khó theo đuổi việc học. Cụ thể, các tỉnh có tỷ lệ học sinh bỏ học còn cao ở cả 3 cấp học: Cà Mau (18,67%), An Giang (14,34%), Bạc Liêu (13,23%), Hậu Giang (10,19%) ... Đặc biệt, tỷ lệ học sinh yếu kém không theo kịp chương trình của các tỉnh rất cao (chiếm đến 40%). Những lý do học sinh các tỉnh ĐBSCL bỏ học vẫn là điều kiện kinh tế gia đình khó khăn, gia đình không quan tâm cho con em học tập, học sinh nghỉ học để đi làm...

- Còn theo báo cáo của các Sở GD&ĐT thuộc các thành phố trực thuộc trung ương, tuy việc học sinh bỏ học không phải là vấn đề nhức nhối như tại các tỉnh ĐBSCL nhưng vẫn còn. Cụ thể, tỷ lệ học sinh bỏ học tại Tp.HCM là 0,06% (tiểu học), 0,45% (THCS), 0,94% (THPT). Tỷ lệ bỏ học tại Tp.Cần Thơ là 0,6% (tiểu học), 3,51% (THCS), 2,4% (THPT).

- Theo thống kê của Bộ GD&ĐT, tính đến ngày 31/3/2008, 147.005 (trên tổng số 15.710.061) học sinh bỏ học, chiếm 0,94%. Theo Thứ trưởng Bộ GD&ĐT Nguyễn Vinh Hiển, tình trạng học sinh bỏ học là đáng quan tâm nhưng không diễn ra ở tất cả các vùng tại Việt Nam. Học sinh bỏ học chủ yếu ở những vùng có điều kiện kinh tế khó khăn, vùng dân tộc thiểu số. Theo Thứ trưởng, có hai nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng bỏ học. Nguyên nhân thứ nhất là điều kiện kinh tế địa phương còn khó khăn, gia đình nghèo, các em phải đi học xa trong khi phương tiện đến trường thiếu, thậm chí nhiều học sinh thiếu ăn, thiếu mặc nên không thể đến trường. Nguyên nhân thứ hai là bệnh thành tích. Những năm qua, chúng ta đã đánh giá học sinh không đúng thực chất, nay đánh giá đúng, học sinh mất căn bản, học yếu khiến các em bỏ học.

Đã có nhiều giải pháp đã được nêu ra để khắc phục tình trạng này, trong đó, trước mắt là giúp đỡ trực tiếp học sinh yếu kém. Bên cạnh những giải pháp từ phía Bộ GD&ĐT, chính quyền và Sở GD&ĐT các địa phương, nhiều tổ chức, đoàn thể đã tham gia, như quyên góp sách giáo khoa, quần áo, tài chính, kết hợp với nhà trường phân công người giúp đỡ học sinh yếu kém... Và đã có những giải pháp cụ thể được thực hiện mang lại kết quả tốt, ví dụ, tại Đồng Tháp tất cả các xã, huyện đều tổ chức các "Tổ nhân dân khuyến học" để có thể nắm rõ tình hình bỏ học của học sinh tại địa phương. Những thành viên trong tổ chức này là những người tâm huyết với sự nghiệp giáo dục, chịu trách nhiệm đôn đốc, thuyết phục nếu phát hiện các em bỏ học. Hay tại Trà Vinh, một trong những tỉnh có số lượng học sinh nghỉ học nhiều nhất do đặc thù tỉnh nghèo, có nhiều đồng bào dân tộc người Khmer, mỗi xã thành lập "Ban phòng chống học sinh bỏ học" để làm tốt hơn công việc này.

Bên cạnh những giải pháp hỗ trợ trực tiếp cho học sinh như trên, theo suy nghĩ của chúng tôi, trong tình hình học sinh bỏ học còn cao như hiện nay, nên nghiên cứu đưa ra giải pháp hỗ trợ trực tiếp cho chính những giáo viên trực tiếp đứng lớp. Những biện pháp lâu nay vẫn được thực hiện ở các tỉnh ĐBSCL để duy trì sĩ số, như giáo viên trực tiếp đến từng gia đình có học sinh nghỉ học vận động học sinh trở lại lớp, trong nhiều trường hợp giáo viên còn bỏ tiền của mình ra để hỗ trợ các em mua đồ dùng học tập, coi việc duy trì sĩ số là một trong các tiêu chuẩn đánh giá thi đua, bên cạnh mặt tốt của việc này thì mặt hạn chế của nó là sự ảnh hưởng không nhỏ đến sức khỏe, đời sống của giáo viên vốn đã rất khó khăn, ảnh hưởng đến thời gian dành cho việc đầu tư nâng cao chất lượng bài dạy. Nên chăng nghiên cứu cách tính để cộng thêm một phần thu nhập nào đó vào lương cho những giáo viên mạnh dạn nhận dạy nhiều học sinh yếu kém, mất nhiều công sức (và đạt kết quả cụ thể, được đánh giá chính xác) giúp học sinh yếu kém học tập tốt hơn. Chúng ta có chính sách khen thưởng, động viên các thầy cô có thành tích trong việc bồi dưỡng học sinh giỏi, thì cũng cần có chính sách tương xứng với các thầy cô có thành tích trong việc bồi dưỡng học sinh yếu kém.

Theo chúng tôi được biết, giai đoạn 2008-2012 đầu tư cho giáo dục chiếm 20% trong tổng chi ngân sách Nhà nước và phấn đấu đạt 21% vào năm 2015, trong đó, tập trung ưu tiên cho giáo dục phổ cập, giáo dục ở vùng khó khăn, vùng sâu vùng xa và hỗ trợ tài chính cho học sinh, sinh viên thiệt thòi, diện chính sách. Trong các công việc cần đầu tư, nên có phần đầu tư cho giáo viên trong hoạt động bồi dưỡng học sinh yếu kém.
 
Trang chủ - Liên hệ - Webmail - Sitemap
Bản quyền © 2008 của Viện Nghiên Cứu Giáo Dục - Trường ĐH Sư Phạm Thành phố Hồ Chí Minh.
Ghi rõ nguồn www.ier.edu.vn khi sử dụng lại thông tin từ website này.
115 Hai Bà Trưng, Quận 1, TP. Hồ Chí Minh - Tel: 84-8-38224813, 38272891 - Fax: 84-8-38273833