Tư tưởng Hồ Chí Minh về học tập suốt đời Print E-mail
22-09-2008
Là người phải bôn ba năm châu bốn bể tìm đường cứu nước, cứu dân tộc, từng đi nhiều, thấy nhiều, học nhiều, suy nghĩ nhiều, Hồ Chí Minh thấm thía nguyên nhân mất nước của dân tộc. Sống trong lòng nước Pháp đế quốc thực dân hùng mạnh, có nền khoa học kỹ thuật phát triển hàng đầu thế giới vào đầu thế kỷ 20, Người đã đúc kết nên chân lý gắn giáo dục với sức mạnh nội tại của một dân tộc: "một dân tộc dốt là một dân tộc yếu"[1]. Trong "ham muốn tột bậc" của vị lãnh tụ tối cao của Đảng và dân tộc, bên cạnh ham muốn "làm cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc" là ham muốn "ai cũng được học hành"[2].  Các tác phẩm của Người tàng chứa những tư tưởng quý báu để động viên mọi người hăng hái học tập, học suốt đời.

Bài viết này phân tích tư tưởng Hồ Chí Minh theo bốn ý chính: 1) Ham học, học suốt đời, học ở mọi nơi, lấy tự học làm cốt; 2) Ai cũng phải học; 3) Học những điều cơ bản, thiết thực; và 4) Học để biết phải trái, học để hành, để làm người, để phụng sự nhân dân.

Ham học, học suốt đời, học ở mọi nơi,  lấy tự học làm cốt:  Hồ Chí Minh ý thức rất rõ là sự học là vô biên, vô cùng vì "thế giới tiến bộ không ngừng, ai không học là lùi"[3]. Nói chuyện tại Hội nghị chuyên đề sinh viên quốc tế tại Việt Nam tháng 9/1961[4], Người thẳng thắn nhận định là thế hệ người già ở Việt Nam ít được học do bị thực dân kìm hãm và bản thân Người cũng chỉ học hết tiểu học. Để có đủ hiểu biết mà tìm đường cứu nước, Người đã ra sức học tập, chủ yếu là tự học, "học ở trường, học ở sách vở, học lẫn nhau và học ở nhân dân"[5]. Thời còn trẻ, do hoàn cảnh phải đi làm thuê cực nhọc để kiếm miếng ăn, có tiền mà hoạt động cách mạng bí mật, Người đã không được đến trường để học nhưng vẫn tranh thủ học mọi nơi, mọi lúc, "học trong đời sống của mình,.. học ở giai cấp công nhân"[6].  Người kể với thanh niên trong buổi gặp gỡ tại Phủ Chủ tịch[7] về cách học tiếng nước ngoài của mình lúc phải đi ra nước ngoài để sống bằng nghề bồi tàu, làm phu quét tuyết, phụ bếp. Hồi đó cậu thanh niên Ba phải làm việc từ sáng đến tối, làm gì có thời gian cầm tờ báo mà xem. Chỉ có mỗi một cách là viết mấy chữ lên mảnh da tay để vừa cọ sàn tàu, đánh nồi, rửa bát, thái thịt, băm rau vừa nhìn vào da bàn tay mà học. Hết ngày thì mồ hôi đầm đìa, chữ cũng mờ đi thì coi như đã thuộc. Sáng hôm sau lại ghi chữ mới.

Sau này, khi đã lớn tuổi, thành người đứng đầu một nhà nước độc lập, dù thời bình hay thời chiến, Người vẫn tích cực học, học trong thực tế, học suốt đời. Nói chuyện với đảng viên, Bác phê phán đảng viên mới 40 tuổi mà đã cho là mình già nên ít chịu học tập và nói rõ là mình 76 tuổi nhưng vẫn cố gắng học thêm rồi kêu gọi "chúng ta phải học và hoạt động cách mạng suốt đời. Còn sống thì còn phải học"[8]. Người nói với cán bộ đã kết thúc một khoá huấn luyện là "anh em sẽ còn phải học nữa, học mãi khi ra làm việc"[9]. Người còn nhắc nhở cán bộ cơ quan "mỗi ngày ít nhất  phải học tập một tiếng đồng hồ"[10] và xem việc cán bộ đảng viên vì bận việc hành chính hoặc quân sự mà xao nhãng chuyện học tập là "một khuyết điểm rất to"[11]. Người còn dặn phải "biết ham học"[12]. Rõ ràng là từ mức giác ngộ về nghĩa vụ - biết tại sao cần phải học - tiến đến mức "ham học" là đạt đến mức giác ngộ cao, là một sự thay đổi về chất bởi khi ta ham học thì tự việc học đã đem lại sự thoả mãn, thích thú trong người, ta sẽ tìm đến việc học một cách tự giác, hăm hở và khi đó việc học chắc chắn sẽ có hiệu quả cao.

Người nhắc nhở "học hỏi là một việc phải tiếp tục suốt đời", những điều được học, được nghiên cứu tại trường chỉ có thể ví như một "hạt nhân bé nhỏ" mà người học "sẽ tiếp tục săn sóc, vun xới, làm cho mọc thành cây và dần dần nở hoa, kết quả"[13]. Người khẳng định là trong cách học thì "lấy tự học làm cốt"[14]. Có thể thấy Hồ Chí Minh đã rất coi trọng trách nhiệm tự học của chính người học, tự học thêm để làm chủ được tri thức, để biến hạt hiểu biết cơ bản được gieo xuống ban đầu trong đầu óc mình nảy nở thành cây tri thức vững chãi. Người còn quan niệm việc mở mang giáo dục không chỉ là lập trường cho người lớn và trẻ em, lập ấu trĩ viên cho trẻ con mà còn phải "lập các nhà chiếu bóng, diễn kịch, câu lạc bộ, thư viện để nâng cao trình độ trí dục cho nhân dân"[15]. Với tầm nhìn xa của mình, Hồ Chí Minh đã thấy rõ vai trò không thể thiếu được của các thiết chế văn hoá trong sự nghiệp mở mang  trí óc cho nhân dân.

Ai cũng phải học: Hồ Chí Minh xác định thực dân Pháp đã dùng nạn dốt như một phương pháp độc ác để cai trị Việt Nam khiến cho hơn 90% đồng bào bị mù chữ. Vì vậy ngay sau khi nhà nước Việt Nam Dân chủ Công hoà non trẻ ra đời,  Người đã kêu gọi mở một chiến dịch để chống nạn mù chữ, chống nạn thất học. Để đạt được mục tiêu "đồng bào  ai cũng  có học"[16] thì ai cũng phải đi học, dù là đàn ông đàn bà, người già người trẻ, thanh niên, thiếu nhi, nhi đồng; dù là người tá điền, người làm công cho gia đình, công nhân trong hầm mỏ, nhà máy, là cán bộ, đảng viên, quân nhân, hội viên các đoàn thể, giáo viên, người làm công tác huấn luyện. Người kêu gọi  mỗi người biết chữ đều phải tham gia dạy cho người mù chữ ."Vợ chưa biết thì chồng bảo, em chưa biết thì anh bảo, cha mẹ không biết thì con bảo, người ăn người làm không biết thì chủ nhà bảo, các người giàu có thì mở lớp ở tư gia dạy cho người không biết chữ ở hàng xóm láng giềng, các chủ ấp, chủ tá điền, chủ hầm mỏ, nhà máy thì mở lớp học cho những tá điền, những người làm của mình"[17].

Học những điều  cơ bản, thiết thực: Điều mà Người hay nhắc nhở là học cái cơ bản, học điều thiết thực gắn với trình độ, với hoàn cảnh, với nhu cầu của cá nhân và cộng đồng, học gắn với hành, với xây dựng nếp sống văn hoá. Với đồng bào mù chữ thì Hồ Chí Minh thiết tha kêu gọi đi học cho biết chữ, biết đọc, biết viết, với đồng bào đã thoát nạn mù chữ thì Người động viên đây là thắng lợi vẻ vang nhưng khuyên tiếp tục học thêm vì thanh toán nạn mù chữ mới chỉ là "bước đầu nâng cao trình độ văn hoá"[18]. Nhà nước phải có một chương trình để nâng cao thêm trình độ văn hoá phổ thông cho đồng bào, "tiến lên bước nữa bằng cách dạy cho đồng bào thường thức vệ sinh để dân bớt ốm đau, thường thức khoa học để dân bớt mê tín nhảm, bốn phép tính để làm ăn ngăn nắp, lịch sử và địa dư (vắn tắt bằng thơ hoặc ca) để nâng cao lòng yêu nước, đạo đức công dân để thành người công dân đứng đắn"[19] .

Năm 1955, Người xác định[20] nội dung học của học sinh tiểu học là học yêu tổ quốc, yêu nhân dân, yêu lao động, yêu khoa học, trọng của công; học sinh trung học thì học những tri thức phổ thông "chắc chắn, thiết thực, thích hợp với nhu cầu và tiền đồ xây dựng nước nhà", bỏ những phần nào không cần thiết cho đời sống thực tế; với sinh viên thì "kết hợp lý luận với thực hành, ra sức học tập lý luận và khoa học tiên tiến của các nước bạn kết hợp với thực tiễn nước nhà...".

Với người lớn thì Người khuyên hãy tuỳ từng trình độ và việc làm của mình mà học. Người chỉ rõ cán bộ công đoàn [21] phải học khoa học còn người quản lý xí nghiệp thì học quản lý xí nghiệp [22]; cán bộ văn hoá thì học nghệ thuật, nghiệp vụ, văn hoá [23].

Học để biết phải trái, học để hành, để làm người, để phụng sự nhân dân: Học tập là hoạt động đòi hỏi phải nhận thức rõ ràng tính mục đích. Hồ Chí Minh ý thức rất rõ điều này nên luôn chú trọng giải thích tại sao phải học, học để làm gì cho mỗi tầng lớp nhân dân thông suốt mà hăng hái đi học.

Với học sinh - những người chủ tương lai của nước nhà, Người khuyên phải học để sau này làm tròn nhiệm vụ người chủ của nước nhà, học để yêu tổ quốc, yêu nhân dân, yêu lao động, yêu khoa học, yêu đạo đức và triệt để chống lại những gì trái với quyền lợi của tổ quốc và lợi ích chung của nhân dân, trái với khoa học, trái với đạo đức; học để phụng sự tổ quốc, phụng sự nhân dân, làm cho dân giàu nước mạnh[24]. Người lý giải  thanh niên phải học để biết phải trái, làm việc phải, tránh việc trái, nhận rõ bạn thù ở ngoài và ở trong mình ta[25].

Với công dân Việt Nam, Người chỉ rõ quy luật nghiệt ngã "dốt thì dại, dại thì hèn" và giải thích "vì không chịu dại, không chịu hèn nên thanh toán mù chữ là một trong những việc cấp bách và quan trọng"[26] để từ đó mà nhắc nhở công dân nước Việt Nam độc lập ai cũng phải học để hiểu biết quyền lợi và bổn phận công dân của mình, "phải có kiến thức mới để có thể tham gia vào công cuộc xây dựng nước nhà, và trước hết phải biết đọc, biết viết chữ quốc ngữ"[27].

Với công nhân, Người phân tích "máy móc ngày một thêm tinh xảo...công nhân cũng phải có trình độ kỹ thuật rất cao không kém gì kỹ sư, phải biết tính toán nhiều". Với nông dân sau cải cách ruộng đất, Người chỉ rõ: "Trước kia ruộng là của địa chủ, nông dân cứ cúi đầu làm lụng, gặt bao nhiêu thì nộp cho địa chủ hết, nên không cần văn hoá mà cũng không thể mong có văn hoá được. Bây giờ khác, nông dân có ruộng đất, lại có tổ đổi công cho nên nông dân phải có văn hoá, phải ghi tổ có mấy người, phải biết chia công chấm điểm". Từ đó Người dẫn đến kết luận đầy sức thuyết phục là  phải học[28]. 

Đối với cán bộ, Người chỉ rõ học là "để làm việc, làm người, làm cán bộ, để phụng sự đoàn thể, giai cấp, nhân dân, tổ quốc và nhân loại"[29]  và học để hành[30]. Người cảnh báo trước cho cán bộ thấy là  "không học thì không theo kịp, công việc nó sẽ gạt mình lại phía sau"[31].

Về phương pháp tư tưởng, Hồ Chí Minh đã để lại một bài học kinh nghiệm quý báu nhằm thuyết phục, lôi kéo người dân đi học: đó là  khéo chỉ ra lợi ích mà việc học sẽ đem lại cho cá nhân và cộng đồng nhằm động viên từng người và từng cộng đồng ra sức học tập. Làm cho cá nhân và cộng đồng thực sự thông suốt về tư tưởng, cụ thể là giác ngộ được lợi ích của việc học tập thì sẽ tạo ra được động cơ học tập, giác ngộ càng cao thì động cơ càng mạnh mẽ. Với từng cộng đồng khác nhau như nông dân, công nhân, cán bộ, Người có những cách thuyết phục khác nhau nhưng đều nhằm mục tiêu cuối cùng là thức tỉnh ý thức của họ, tạo động cơ bên trong để rồi ai ai cũng ham học mà  học suốt đời.

Hồ Chí Minh - Nguyễn Ái Quốc - Nguyễn Tất Thành sống trong một hoàn cảnh mà độc lập cho dân tộc, miếng cơm cho người dân là vấn đề sống còn của hàng chục triệu người. Nay hoàn cảnh đã khác, nước nhà đã độc lập, dân đã đủ cơm ăn, cả nước đang phấn đấu trở thành nước công nghiệp hoá vào năm 2020, xây dựng cả nước trở thành một xã hội học tập. Tuy nhiên di sản tư tưởng mà Người để lại chứa cả  một cẩm nang quý báu cho người đời nay học hỏi. Quan điểm của UNESCO ngày nay về 4 trụ cột của giáo dục là "học để biết, học đế làm, học để chung sống, học đế làm người" cũng mang nội dung không xa lạ với tư tưởng của Hồ Chí Minh về học suốt đời. Không chỉ để lại cho hậu thế  tấm gương mẫu mực về học suốt đời, Người còn để lại  bài học quý giá về cách tiếp cận thích hợp, đầy sức thuyết phục đối với từng tầng lớp nhân dân khác nhau, cách thức tỉnh, huy động và tổ chức cho mọi người từ người trẻ đến người già, từ dân thường tới cán bộ, từ người thất học đến trí thức ai ai cũng chịu đi học và học suốt đời./.

TS. Hồ Thiệu Hùng
Cộng tác viên Viện Nghiên cứu Giáo dục 


[1] Hồ Chí Minh toàn tập- tập 4, tr.8, NXB CTQG H.2000

[2] Hồ Chí Minh toàn tập- tập 4, tr.161, NXB CTQG H.2000

[3] Hồ Chí Minh toàn tập- tập 9, tr.489, NXB CTQG H.2000

[4] Hồ Chí Minh toàn tập- tập 10, tr.389, NXB CTQG H.2000

[5] Hồ Chí Minh toàn tập- tập 6, tr.50, NXB CTQG H.2000

[6] Hồ Chí Minh toàn tập- tập 9, tr.416, NXB CTQG H.2000

[7] Sách "Một số lời dạy và mẫu chuyện về tấm gương đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh", t.209, nhà XBCTQG, H.2007.

[8] Hồ Chí Minh toàn tập, tập 12, tr.92, NXB CTQG, H.2000

[9] Hồ Chí Minh toàn tập, tập 4, tr.101, NXB CTQG, H.2000

[10] Hồ Chí Minh toàn tập, tập 5, tr.273, NXB CTQG, H.2000

[11] Hồ Chí Minh toàn tập, tập 5. tr.231, NXB CTQG, H.2000

[12] Hồ Chí Minh toàn tập, tập 5, tr.99, NXB CTQG, H.2000

[13] Hồ Chí Minh toàn tập, tập 8. tr.215, NXB CTQG, H.2000

[14] Hồ Chí Minh toàn tập- tập5, tr.273, NXB CTQG H.2000

[15] Hồ Chí Minh toàn tập, T.3. tr.585-586, NXB CTQG, H.2000

[16] Hồ Chí Minh toàn tập- tập 4, tr.220, NXB CTQG H.2000

[17] Hồ Chí Minh toàn tập- tập 4, tr.37, NXB CTQG H.2000

[18] Hồ Chí Minh toàn tập- tập 8, tr.281, NXB CTQG H.2000

[19] Hồ Chí Minh toàn tập- tập 5, tr.489, NXB CTQG H.2000

[20] Hồ Chí Minh toàn tập- tập 8, tr.81, NXB CTQG H.2000

[21] Hồ Chí Minh toàn tập- tập 8, tr.295 đến 299, NXB CTQG H.2000

[22] Hồ Chí Minh toàn tập- tập 8, tr.85, NXB CTQG H.2000

[23] Hồ Chí Minh toàn tập- tập 9, tr.249, NXB CTQG H.2000

[24] Hồ Chí Minh toàn tập- tập 7, tr.398-399, NXB CTQG H.2000

[25]Hồ Chí Minh toàn tập- tập 7, tr.454, NXB CTQG H.2000

[26] Hồ Chí Minh toàn tập- tập 8, tr.64, NXB CTQG H.2000

[27] Hồ Chí Minh toàn tập- tập 4, tr.36, NXB CTQG H.2000

[28] Hồ Chí Minh toàn tập- tập 8, tr.224, NXB CTQG H.2000          

[29] Hồ Chí Minh toàn tập- tập 5, tr.684, NXB CTQG H.2000

[30] Hồ Chí Minh toàn tập- tập 6, tr.50, NXB CTQG H.2000

[31] Hồ Chí Minh toàn tập, tập 10, tr.465, NXB CTQG, H.2000

Cập nhật ( 22-09-2008 )
 
Trang chủ - Liên hệ - Webmail - Sitemap
Bản quyền © 2008 của Viện Nghiên Cứu Giáo Dục - Trường ĐH Sư Phạm Thành phố Hồ Chí Minh.
Ghi rõ nguồn www.ier.edu.vn khi sử dụng lại thông tin từ website này.
115 Hai Bà Trưng, Quận 1, TP. Hồ Chí Minh - Tel: 84-8-38224813, 38272891 - Fax: 84-8-38273833