Đào tạo theo hệ thống tín chỉ: Kinh nghiệm thế giới và thực tế ở Việt Nam Print E-mail
26-03-2008

Bài viết cho hội thảo ĐÀO TẠO THEO TÍN CHỈ do TRƯỜNG ĐH HUFLIT tổ chức năm 2005.

 

Bài viết trình bày một số kinh nghiệm của thế giới trong việc xây dựng và phát triển hệ thống đào tạo theo tín chỉ. Các mô hình chuyển đổi tín chỉ cũng được giới thiệu kèm theo các chức năng và ưu điểm của chúng. Sau đó, các kinh nghiệm của Việt Nam trong việc áp dụng hệ thống chuyển đổi tín chỉ trong đào tạo và các ưu khuyết điểm của các hệ thống này sẽ được tổng kết và phân tích.


Sự ra đời của các hệ thống chuyển đổi tín chỉ

 

Thế kỷ 21 được đánh dấu bằng các thành tựu đáng kể trong nhiều lĩnh vực: kinh tế toàn cầu hoá, quan hệ quốc tế, khoa học, công nghiệp, y tế và giáo dục có rất nhiều chuyển biến, trong đó các thành tựu trong lĩnh vực giáo dục đại học đóng vai trò rất lớn trong sự nghiệp phát triển của loài người. Cùng với sự bùng nổ của công nghệ thông tin, con người trong thế kỷ mới không ngừng có nhu cầu trao đổi kinh nghiệm của mình nhằm đóng góp vào qui trình phát triển thế giới. Mỗi một kinh nghiệm cá nhân, mỗi một thành tựu khoa học, mỗi một khám phá mới về kiến thức thông qua các nghiên cứu đều có xuất phát điểm là các kinh nghiệm của nhiều thế hệ và cá nhân đi trước đặt nền tảng cho các bước kế tiếp sau này, mà cụ thể là thông qua các chương trình học ở các cấp độ khác nhau trong hệ thống giáo dục, đặc biệt là giáo dục đại học.

 

Thế giới hiện đại luôn công nhận tầm quan trọng của giáo dục đại học, nơi sinh viên tiếp thu kiến thức và kỹ năng thông qua các chương trình học được sắp xếp có hệ thống. Thế giới đang trong tiến trình tìm tiếng nói chung ở các chương trình học, nơi sinh viên có thể chuyển đổi từ hệ thống giáo dục này sang hệ thống giáo dục khác mà không gặp nhiều khó khăn. Chính vì vậy, các nhà giáo dục, khoa học, chuyên môn và quản lý nhà nước lẫn giáo dục đại học đang cố gắng lập ra một không gian giáo dục thống nhất để sinh viên có thể tiếp thu càng nhiều kiến thức càng tốt. Với mục đích đó, một hệ thống được gọi là ‘hệ thống chuyên đổi tín chỉ' được xây dựng và phát triển ở nhiều nước trên thế giới.

 

Hệ thống chuyển đổi tín chỉ là một hệ thống được sử dụng cho tất cả các thành phần (hay môn học) của một chương trình học. Tất cả số lượng tín chỉ gộp lại sẽ giúp cho sinh viên có được bằng cử nhân, thạc sĩ, tiến sĩ hay một bằng cấp chuyên môn nào đó. Tín chỉ  được sử dụng để đo lường khối lượng công việc của một sinh viên theo các hoạt động học tập đã được lên kế hoạch như lên lớp nghe giảng, tham dự seminar, hoặc tự học v.v... Các tiêu chí này quyết định các đặc trưng cụ thể của các hệ thống tín chỉ khác nhau trong những khoá học gần giống nhau trên thế giới.

 

Các mô hình chuyển đổi tín chỉ

 

Có hai hệ thống tín chỉ tương đối được sử dụng rộng rãi hiện nay. Đó là Hệ thống Tín chỉ của Hoa Kỳ (the United States Credit System - USCS), được thực hiện từ những năm đầu tiên của thế kỷ 20 và Hệ thống Chuyển đổi Tín chỉ của Châu Âu (the European Credit Transfer System - ECTS) được xây dựng từ những năm giữa của thập kỷ 80 và được Hội đồng Châu Âu công nhận như là một hệ thống thống nhất dùng để đánh giá kiến thức của sinh viên trong khuôn khổ các nước thành viên EU từ năm 1997.  ECTS là hệ thống phát triển rộng rãi nhất và được sử dụng cả ở các nước không thuộc Hiệp hội Châu Âu. Các nước này sử dụng mô hình ECTS như là bước đầu trong việc xây dựng và phát triển các hệ thống tín chỉ quốc gia và dùng chúng để so sánh với ECTS cũng như để sinh viên có thể chuyển sang học ở các nước sử dụng hệ thống này. 

Hệ thống chuyển đổi tín chỉ tạo cho giáo dục đại học và sinh viên nhiều tiện ích: nó giúp cho việc đánh giá kết quả học tập được dễ dàng hơn trong thời gian chuyển đổi và góp phần vào việc phát triển các chương trình trao đổi giữa các khoa trong cùng đơn vị trong trường và khác trường cũng như các chương trình trao đổi sinh viên giữa các nước khác nhau trên thế giới.

 

Sau đây là một ví dụ về một chương trình đào tạo sử dụng hệ thống chuyển đổi tín chỉ ở Châu âu.

 

Trong khuôn khổ một trường đại học, các tín chỉ được phân bổ theo hai nguyên tắc. Nguyên tắc thứ nhất do một đơn vị của trường (trong ví dụ này là Phòng Nghiên cứu Khoa học và Thiết kế các Chương trình Giáo dục Chuyên ngành đưa ra. Nguyên tắc thứ hai được xây dựng trên cơ sở chính là của ECTS sau khi đã được thay đổi một số thành phần cho phù hợp với chương trình đào tạo của nhà Trường. Hệ thống tín chỉ của nhà trường hoàn toàn có thể chuyển đổi được với ECTS và được xây dựng trên cơ sở nền tảng sau đây: quá trình tính toán các tín chỉ là theo hai tiêu chí chính: khối lượng các giờ cần thiết để hoàn thành một môn học và trọng lượng của môn học đó trong một chuyên ngành cụ thể. Cần chú ý là hệ thống này đòi hỏi các tín chỉ bổ sung, hoặc các tín chỉ thưởng cho các sinh viên có thành tích học tập xuất sắc. Điều này có nghĩa là bất cứ sinh viên nào thể hiện được sự nổi trội vượt bậc cũng có thể được ghi nhận thành tích đó vào trong bằng tốt nghiệp của mình. Đôi khi cũng có trường hợp một sinh viên có được các điểm tốt và xuất sắc trong một môn học nào đó thì số điểm sẽ được cộng thêm 0,25 hoặc 0,5. Tất cả những điều này đều được qui định rõ trong mỗi đầu một khoá học.

 

Qui trình

 

Qui trình chuyển đổi tín chỉ của trường đại học này được xây dựng và đồng ý của Bộ Giáo dục nước đó. Qui trình này cũng được thực hiện trong tất cả các cơ sở đào tạo đại học trong hệ thống giáo dục quốc dân. Qui trình được thiết kế dựa trên ECTS và các chuẩn mực của giáo dục đại học của đất nước này. Mục đích của hệ thống, như đã đề cập, là giúp củng cố tính linh hoạt trong học tập của sinh viên cho nên tất cả khối lượng công việc trong khoá học được thể hiện rất rõ trong các tín chỉ. Trong khi tính khối lượng kiến thức và kỹ năng của các chương trình giáo dục cơ bản, nhà trường phải dựa vào những điều sau đây:

 

·         1 tín chỉ tương đương với 36 tiết dạy (mỗi tiết dạy là 45 phút), hay 27 giờ (mỗi giờ là 60 phút).

·         Khối lượng công việc tối đa cho sinh viên trong một tuần có thể được tính đến 54 tiết dạy, tức là 1,5 tín chỉ.

 

Việc tính toán khối lượng công việc của một môn học được dựa vào khối lượng của các tiết dạy chia cho 36, xấp xỉ là một số chẳn, hoặc 0,5 theo điều lệ hiện hành. Các bài thi trong một môn học và nội dung công việc của các bài tập lớn thuộc môn học cũng được tính vào trong khối lượng chung của môn học đó. Thường thì một tuần thực hành được tính bằng 1,5 tín chỉ. Một kỳ thi học kỳ bằng 1 tín chỉ (3 ngày chuẩn bị và một ngày thi). Khối lượng công việc của buổi lễ phát bằng có giá trị quốc gia cuối cùng được tính từ số tuần đã được chia: 1 tuần là 1,5 tín chỉ. Theo ước lượng, khối luợng công việc của một chương trình đào tạo bậc cử nhân 4 năm được tính khoảng chừng 260 tín chỉ, chương trình đào tạo chuyên gia 5 năm - khoảng 320 tín chỉ, cũng giống như các tham số của ECTS (240300 tín chỉ).

 

Hệ thống chuyển đổi tín chỉ có rất nhiều ưu điểm. Vào mỗi đầu một một khóa học mỗi sinh viên mở sẵn một ‘tài khoản' (‘thùng đựng tín chỉ' - ‘credit basket') có hạn định trước và tài khoản này sẽ được lấp dần bằng các tín chỉ đòi hỏi cho mỗi môn học. Khi đã tích lũy được một số lượng nhất định nào đó, các sinh viên có thể nhận được một bằng cấp tương xứng. Cho đến khi tốt nghiệp, sinh viên, ngoài bằng cấp, còn nhận được một bảng điểm ghi rõ số tín chỉ của mỗi môn học đòi hỏi phải có trong quá trình học tập. Để có thể tham gia vào các thí nghiệm hay các bài tập lớn (cũng có thể gọi là dự án), sinh viên chỉ phải điền vào một mẫu đơn. Sau đó, vào cuối mỗi học kỳ, sinh viên sẽ được nhận từ văn phòng khoa giấy chứng nhận đã tích lũy được một số tín chỉ. Cho đến lúc tốt nghiệp, sinh viên nhận được bằng tốt nghiệp có đính kèm bảng điểm có ghi rõ kết quả của việc tham gia vào các thí nghiệm hay các dự án đó.

(Nguồn: Trường Đại học Công nghệ và Tài chính Moskva - lấy từ mạng Internet theo địa chỉ http://www.mifp.ru/credit/about_eng.shtml) ngày 04/01/2006).

 

Như vậy, có thể thấy rõ các ưu điểm của hệ thống chuyển đổi tín chỉ như sau:

 

1)       Giúp sinh viên hình dung và định lượng ra tất cả các yêu cầu đối với bản thân trong từng giai đoạn cũng như trong suốt quá trình học tập của mình trong nhà trường;

2)       Tạo điều kiện cho sinh viên chủ động lên kế hoạch và thực hiện việc học tập dựa vào năng lực và điều kiện của mình, làm chủ thời gian và công việc;

3)       Tăng cường tính mềm dẻo và linh hoạt của chương trình, giúp sinh viên không bị mất đi những mảng kiến thức và kỹ năng đã tích lũy nếu như việc học của họ bị gián đoạn;

4)       Giúp sinh viên có thể chuyển đổi từ khoá học này sang khoá học khác trong cùng một hệ thống hay khác hệ thống;

 

Kinh nghiệm từ việc áp dụng hệ thống chuyển đổi tín chỉ ở Việt Nam

 

Trong tiến trình đến với sự hoà nhập với các nước trong khu vực và thế giới, các trường ĐH Việt Nam trong những năm của thập kỷ 90 vừa qua đã tiến tới việc tham khảo kinh nghiệm và áp dụng hệ thống tin chỉ vào chương trình đào tạo của mình. Có thể kể ra các trường đi đầu trong việc áp dụng này là các trường thuộc kỹ thuật như Trường Đại học Bách khoa TpHCM, Trường Đại học Bách khoa Hà Nội , Đại học Cần thơ, Trường ĐH Đà lạt, Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Hồ Chí Minh, Trường Đại học Thủy sản Nha Trang v.v..

 

Nhìn chung, các trường được phép áp dụng thử nghiệm học chế tín chỉ từ năm 1993 - toàn bộ CTĐT ĐHCQ đã được chuyển sang hệ tín chỉ. Mô hình nhóm ngành-ngành rộng được áp dụng. Đối với hệ đào tạo chính quy tại trường áp dụng loại hình tập trung, đào tạo theo học chế tín chỉ. Các học phần tự chọn sẽ được giới thiệu chi tiết, cụ thể trong chương trình đào tạo theo từng ngành học và từng học kỳ, người học sẽ dựa vào quy chế mà có thể đăng ký học những học phần hoàn toàn theo khả năng và sở thích của mình. Theo hệ thống này, người học không phải trải qua kỳ thi tốt nghiệp hay phải bảo vệ luận văn tốt nghiệp như trước đây mà người học có thể lựa chọn là hoàn thành thêm một số (thường là 10) tín chỉ ngoài các học phần như đã công bố trong CTĐT của từng ngành học.

 

Hiện nay, các hoạt động về tổ chức đào tạo phục vụ cho học chế tín chỉ của nhà trường như đăng ký môn học, thời khoá biểu của người học, kết quả điểm tích lũy của từng môn học theo số tín chỉ v.v..., từng bước đi vào thế ổn định và mang tính bền vững. Nhiều trường đã thực hiện chế độ tích luỹ kết quả học tập theo học phần thống nhất cho các loại hình đào tạo ĐH chính quy, ĐH bằng 2, ĐH tại chức, SĐH, chuyển đổi từ CĐ lên ĐH, hợp đồng liên kết đào tạo với các cơ sở đào tạo tại các dịa phương, các bộ, ngành và các cơ sở đào tạo. Hiện nay, các trường này đã thực hiện cấp chứng chỉ tích lũy theo học phần đối với các học phần phải bổ xung kiến thức thuộc đào tạo SĐH và chứng chỉ các môn học. Ngoài ra, các trường này cũng đã thống nhất đánh giá kết quả học tập của sinh viên, học viên theo chế độ tích luỹ học phần cho các loại hình đào tạo tập trung, chính quy, đào tạo ngoài giờ, tại các địa phương, các ngành và liên kết đào tạo với các trường đại học. Thực hiện kiểm tra, thi kết thúc học phần, thi tốt nghiệp  theo hình thức thi viết đồng thời mở rộng hình thức thi trắc nghiệm khách quan.

 

Ví dụ: Học phần có từ 3 đơn vị học trình trở xuống 01 lần kiểm tra, học phần từ 4 đơn vị học trình trở lên 2 lần kiểm tra định kỳ, mỗi lần 45 phút. Nhà trường thống nhất áp dụng đề kiểm tra định kỳ, bài tập điều kiện, tiểu luận, đề án, đề thi học phần do Trưởng Bộ môn hoặc người được ủy quyền ra đề: 4 đề thi cho một ca thi thời gian 90 phút (cấu trúc đề thi 70% kiến thức lý thuyết, 30% kiến thức vận dụng, bài tập, bài tập xử lý tình huống). Tất cả Bộ môn đều có ngân hàng câu hỏi và đề thi áp dụng cho các hệ đào tạo và phương thức đào tạo. Thực hiện hình thức thi, kiểm tra bằng thi viết, thi vấn đáp, thi trên máy tính. Ngoài ra, tất cả các môn học trong từng ngành đã thực hiện chế độ tích luỹ kết quả học tập theo học phần. Nhiều trường có Website công bố chế độ tích luỹ kết quả học tập của sinh viên. Các trường còn tổ chức nghiên cứu, khảo sát, học tập kinh nghiệm các trường đại học trong và ngoài nước, thống nhất quan điểm và nhận thức, chuẩn bị mọi điều kiện xây dựng lộ trình tổ chức đào tạo và tích luỹ học tập theo học chế tín chỉ.

(Nguồn: tổng hợp từ các báo cáo tự đánh giá của các trường tham gia kiểm định trường đợt 1 của Dự án Đại học I).

 

Các ưu điểm nổi bật

-          Các trường đại học kể trên đã thực hiện chế độ tích luỹ kết quả học tập theo học phần, thực hiện đánh giá kết quả học tập thống nhất giữa các hệ đào tạo, các loại hình, phương thức đào tạo. Điều này còn có tác động tích cực đến phương pháp học tập của sinh viên, học viên;

-          Các trường đã có sự chỉ đạo quyết liệt để thực hiện đào tạo theo học chế tín chỉ, bước đầu trường đã xác định lộ trình thực hiện để tiến tới thực hiện ở tất cả các hệ, các phương thức đào tạo trong toàn trường;

-          Thuận lợi cho người học, vì học hoàn toàn chủ động lựa chọn loại hình học tập cũng như việc thực hiện kế hoạch học tập trong quá trình đào tạo của mình;

-          Giải quyết được khủng hoảng thừa về đội ngũ giảng viên, tiết kiệm về cơ sở vật chất và nâng cao tính chuẩn mực trong CTĐT cho các hệ đào tạo của nhà trường;

-          Với hệ thống đào tạo theo tín chỉ này, các trường bắt đầu tiến trình hòa nhập vào hệ thống giáo dục khu vực và thế giới.

 
Các hạn chế của hệ thống tín chỉ Việt Nam

Tuy nhiên, qua các khảo sát và báo cáo của các trường, vẫn còn nhiều điểm còn tồn tại như sau:

-          CTĐT chưa hợp lý về cấu trúc vi mô, giới hạn thời gian cho từng khóa học;

-          Các mô hình đào tạo liên thông giữa các chương trình, các trường trong nước và quốc tế đến nay vẫn chưa có hoặc chưa phát triển mạnh. Chất lượng đào tạo hệ đại học không chính quy còn có hạn chế. Một số Bộ môn do quy mô đào tạo hàng năm lớn hơn nhiều so với trước đây, nên chưa dành nhiều thời gian vào các hoạt động nghiên cứu đổi mới phương pháp giảng, nhất là giáo viên trẻ;

-          Chưa có số liệu thông tin phản hồi  hoàn chỉnh từ nhà sử dụng sản phẩm đầu ra, chưa có khảo sát đáng kể nào để lấy ý kiến người học cho từng loại hình đào tạo, và do đó chưa có những đúc kết thực tiển từ người dạy theo phương thức đào tạo đang hiện hành;

-          Người học chưa quen với mô hình đào tạo này do điều kiện chủ quan và khách quan của các trường và do các dịch vụ phục vụ cho mô hình này chưa đáp ứng kịp với yêu cầu;

-          Đội ngũ tư vấn (CVHT) còn chưa chuyên nghiệp, chưa phát huy hết vai trò cố vấn cho người học;

-          Nhiều trường đã xây dựng chuẩn mực chung về chương trình và đánh giá kiểm tra nhưng sự công khai hoá đến sinh viên còn hạn chế;

-          Việc chuyển đổi cơ chế từ đào tạo theo niên chế sang đào tạo theo học chế tín chỉ đòi hỏi có sự tìm hiểu thấu đáo và cần có thời gian tiếp cận và hoàn thiện dần, thậm chí hàng chục năm; trong khi đó Bộ Giáo dục & đào tạo chưa có các văn bản hướng dẫn thấu đáo. Chính vì vậy, nhà trường chưa triển khai thực hiện đào tạo theo học chế tín chỉ ở tất cả các bậc học và phương thức đào tạo.

 

Các hạn chế kể trên cho thấy rằng hệ thống tín chỉ của các trường chưa thật sự là các hệ thống có tính ‘chuyển đổi' như của các nước. Ngay cả trong giai đoạn hiện nay, khi hệ thống chuyển đổi tín chỉ đã được phổ biến rộng rãi ở các nước, nhiều trường đại học Việt Nam vẫn trong tình trạng ‘đóng cửa' và loay hoay với những mô hình đã thể hiện nhiều bất cập của mình. Những áp dụng còn tính chất ‘nửa vời' hiện nay cho thấy sự yếu kém của một cơ chế ‘bao cấp' còn sót lại và sự chưa triệt để của quyết tâm đổi mới giáo dục đại học của chúng ta.

 

Kết luận

 

Thế giới ngày nay luôn khuyến khích các hệ thống mở, nhiều lựa chọn và thiên về hướng có lợi cho người học. Hệ thống đào tạo theo tín chỉ có đủ các tiêu chí đó và có rất nhiều ưu điểm mà chúng ta cần phải khai thác và sử dụng. Với những tổng hợp và phân tích trên, có thể thấy rằng việc chúng ta còn quá chậm trong tiến trình tiến đến việc hoà nhập về chuyên môn, chương trình học, và như thế là hoà nhập cả về kiến thức và kỹ năng. Điều đó thể hiện sự nghiên cứu của chúng ta về nhu cầu của sinh viên cũng như của xã hội vẫn còn hạn chế. Một điều cần thiết mà trước mắt chúng ta cần phải thực hiện là phải có các hội đồng liên trường để thống nhất nội dung chương trình cho từng môn học hoặc các hiệp hội chuyên môn đưa ra các chuẩn mực chung cho từng ngành học như các nước đã phát triển. Các trường Việt Nam, nếu muốn phát triển cùng với các trường bạn trong khu vực và quốc tế, có thể rút ra các bài học kinh nghiệm từ các nước và trong cả chính hệ thống của chúng ta.

 

TS. Nguyễn Kim Dung

Viện Nghiên cứu Giáo dục - Trường ĐH Sư phạm TPHCM

Cập nhật ( 10-04-2008 )
 
Trang chủ - Liên hệ - Webmail - Sitemap
Bản quyền © 2008 của Viện Nghiên Cứu Giáo Dục - Trường ĐH Sư Phạm Thành phố Hồ Chí Minh.
Ghi rõ nguồn www.ier.edu.vn khi sử dụng lại thông tin từ website này.
115 Hai Bà Trưng, Quận 1, TP. Hồ Chí Minh - Tel: 84-8-38224813, 38272891 - Fax: 84-8-38273833